Các bé phương Tây biếng ăn thường gặp từ 1 tuổi trở lên (dưới 1 tuổi các bé rất ít hoặc không có hiện tượng biếng ăn). Trong khi đó đa phần các bé Châu Á (gồm bé Việt Nam) lại thường có biểu hiện biếng ăn ngay từ khi bắt đầu ăn dặm, thậm chí biếng ăn rất phức tạp từ 8 tháng tuổi, kéo dài đến 4 tuổi. Điều gì đã làm các bé Châu Á biếng ăn xảy ra trước thời điểm biếng ăn do phát triển não bộ?

Trong 1 nghiên cứu về hành vi ăn uống của 404 trẻ em Châu Á, GS.BS. Benjasuwantep đã nhấn mạnh 3 điều mà cha mẹ Châu Á thường mắc sai lầm, góp phần vào xây dựng hành vi biếng ăn của trẻ trước thời điểm bé biếng ăn do phát triển não bộ, do đó hành vi biếng ăn của các bé rất phức tạp.

ĐIỀU 1: cha mẹ thiếu tự tin, dễ bị tác động và hay lo lắng trong cách nuôi dạy bé. Thường bị tác động bởi người khác và tự tạo áp lực bản thân. Càng áp lực càng làm bé biếng ăn và bệnh tật

Hai báo cáo y khoa trên trẻ em Châu Á và trẻ em Phương Tây (Anh, Mỹ) cùng có một kết luận: biếng ăn thường gặp ở trẻ đầu lòng do cha mẹ thường có áp lực khi nuôi dạy bé (GS.BS. Benjasuwantep 2013, GS.BS. Ramsay 2011). Tuy nhiên, Gs. Benjasuwantep nhấn mạnh cha mẹ Châu Á có nhiều áp lực hơn: áp lực về sự so sánh, văn hóa, cân nặng,…

ĐIỀU 2: trẻ không được tập ăn trên ghế ăn ngay từ nhỏ (bắt đầu ăn dặm), trẻ Châu Á thường được mẹ bế đi lòng vòng khắp nơi mới chịu ăn. Khi bé lớn hơn, có thể nhận biết xung quanh, bé đòi hỏi đi nhiều hơn. Điều này làm cho trẻ từng bước xây dựng hành vi CHƠI và ĂN song song, trẻ vốn ham chơi, nên lâu dần hình thành CHƠI là chính. Do đó, càng sớm càng tốt (nghiên cứu cho thấy bé sau 1 tuổi là khó tập ngồi yên) tập cho trẻ ăn ngồi trên ghế ăn của trẻ. Không giới thiệu bất kì đồ chơi hay cái gì lạ để dụ bé ăn, xa tivi, vật dụng làm bé hứng thú hơn việc ăn. Thời gian đầu khó khăn nhưng nếu bé làm quen được cách ăn KHÔNG ĐỒ CHƠI, bé sẽ chịu ăn và giảm thời gian ăn

ĐIỀU 3: ăn khi đi chơi lòng vòng như vậy làm cho trẻ kéo dài bữa ăn lên (thường kéo dài bữa ăn trên 30 phút), càng kéo dài lâu dần sẽ làm cho trẻ biếng ăn hơn, khó thay đổi hơn. Khi bé lớn hơn, hành vi cũng sẽ thay đổi nhiều hơn, lúc này bé trở nên ương bướng, thậm chí biểu lộ cảm xúc khó chịu khi ăn. Những hành vi phát triển này làm cho bé càng biếng ăn hơn (thông điệp từ kết quả nghiên cứu trên 404 trẻ em Châu Á của GS.BS. Benjasuwantep năm 2013, trùng với kết luận của nghiên cứu độc lập trên 455 trẻ em người Anh của GS.BS. Wright năm 2007)

GS.BS. Benjasuwantep cũng gửi thông điệp đến cha mẹ Châu Á nuôi con đầu lòng và bắt đầu cho con ăn dặm: cha mẹ nên được tư vấn, giáo dục cách nhận biết về sự phát triển bình thường về thể chất và hành vi ăn uống bình thường của trẻ. Học cách nhận biết khi nào trẻ biếng ăn thật sự, việc thiếu hiểu biết hay nghe từ các thông tin không khoa học tạo tâm lý lo lắng con biếng ăn thái hóa ở cha mẹ (theo GS. tỷ lệ cha mẹ Châu Á bị tâm lý này rất lớn). Tâm lý này có thể dẫn đến sự thúc ép ăn, sự sử dụng các thuốc giúp “bé ăn ngon” một cách bừa bãi làm trẻ bình thường trở thành biếng ăn bệnh lý

Đọc các bài viết về dừng so sánh, khi nào cần lo về cân nặng và các bài viết khác để giảm áp lực tối đa cho bản thân

Notes:
Wright et al.(2007) đăng tạp sang Nhi Khoa, số 120, với tựa How do toddler eating problems relate to their eating behavior, food preferences, and growth?

Benjasuwantep et al. (2013) Đăng tạp sang Nhi Khoa, số 5, với tựa Feeding Problems in Healthy Young Children: Prevalence, Related Factors and Feeding Practices

Ramsay et al. (2011) đăng tạp sang Sức Khỏe Nhi Khoa (Paediatric Child Health) với tựa The Montreal Children’s Hospital Feeding Scale: A brief bilingual screening tool for identifying feeding problems